24-7-2020, 9:55 GMT+7

Nâng cao xếp hạng năng lực cạnh tranh du lịch Việt Nam theo Diễn đàn Kinh tế thế giới về Mức độ toàn diện dữ liệu thống kê du lịch (Kỳ 1)

 Dữ liệu thống kê du lịch là thước đo đánh giá thực trạng của ngành du lịch. Trong những năm qua, ngành du lịch đã có nhiều nỗ lực trong việc nâng cao chất lượng thống kê du lịch, áp dụng phương pháp thống kê Tài khoản vệ tinh du lịch (TSA) theo khuyến nghị của Liên hợp quốc. Tuy nhiên, vẫn cần có cái nhìn tổng quát từ chỉ số Mức độ toàn diện về dữ liệu thống kê du lịch hàng năm theo Báo cáo năng lực cạnh tranh du lịch của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) để có giải pháp tổng thể, quyết liệt hơn, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam theo Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2019 và 2020.

Bài viết này gồm 2 phần chính: (1) Khái quát về năng lực cạnh tranh ngành du lịch và các chỉ số thống kê du lịch; và (2) Thực trạng về dữ liệu thống kê du lịch hàng năm của Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị.

Phần 1: Khái quát về năng lực cạnh tranh ngành du lịch và các chỉ số về thống kê du lịch 

1. Khái quát về năng lực cạnh tranh ngành du lịch và nhóm chỉ số Mức độ ưu tiên cho ngành du lịch và xếp hạng của Việt Nam

Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) đánh giá, so sánh năng lực cạnh tranh du lịch của các nền kinh tế dựa trên 14 nhóm chỉ số với 90 chỉ số thành phần theo 4 yếu tố chung cấu thành năng lực cạnh tranh du lịch, bao gồm: (1) Môi trường hoạt động; (2) Chính sách và điều kiện hỗ trợ; (3) Cơ sở hạ tầng và (4) Tài nguyên tự nhiên và văn hóa (World Economic Forum, 2019).

Mức độ ưu tiên cho ngành du lịch là một trong số 14 nhóm chỉ số cấu thành năng lực cạnh tranh ngành du lịch, thuộc yếu tố Chính sách và điều kiện hỗ trợ. Đáng lưu ý, trong 6 chỉ số thuộc nhóm Mức độ ưu tiên cho ngành du lịch, có 3 chỉ số liên quan đến thống kê du lịch, bao gồm: (1) Chi tiêu của Chính phủ cho du lịch; (2) Mức độ toàn diện về dữ liệu thống kê du lịch hàng năm; (3) Mức độ kịp thời cung cấp thông tin du lịch hàng tháng/quý.

Trong khi Việt Nam luôn ở nhóm dẫn đầu thế giới về chỉ số Mức độ kịp thời cung cấp thông tin du lịch hàng tháng/quý thì chỉ số về Chi tiêu của Chính phủ cho du lịch và chỉ số Mức độ toàn diện về dữ liệu thống kê du lịch hàng năm luôn ở nhóm cuối, theo Báo cáo của WEF năm 2019 xếp hạng lần lượt 118/140 và 112/140 nền kinh tế.

Chỉ số Mức độ toàn diện về dữ liệu thống kê du lịch hàng năm thể hiện số lượng dữ liệu thống kê hàng năm do cơ quan quản lý du lịch cung cấp theo tiêu chí của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) trong thời gian 4 năm, theo thang điểm từ 0 đến 120, theo đó điểm 120 thể hiện quốc gia có đầy đủ số liệu thống kê về các chỉ số liên quan trong thời gian 4 năm liên tục (World Tourism Organization, 2020).

Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2019 và 2020 của Chính phủ về thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia đề ra mục tiêu phấn đấu năm 2021 nâng xếp hạng Năng lực cạnh tranh du lịch Việt Nam (theo xếp hạng của WEF) lên 10-15 bậc, nâng xếp hạng nhóm chỉ số Mức độ ưu tiên cho ngành du lịch lên 15-20 bậc. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được giao là đầu mối theo dõi Bộ chỉ số năng lực cạnh tranh du lịch và chịu trách nhiệm đối với nhóm chỉ số Mức độ ưu tiên cho ngành du lịch.

2. Các chỉ số thống kê du lịch theo Báo cáo tổng hợp số liệu thống kê du lịch của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO)

Báo cáo tổng hợp số liệu thống kê du lịch của UNWTO là ấn phẩm xuất bản 2 năm 1 lần, từ năm 1986. Các chỉ số thống kê theo các hệ thống khái niệm và phân loại được quốc tế công nhận rộng rãi theo Khuyến nghị quốc tế về Thống kê du lịch 2008 (United Nations, 2010) và Phương pháp thống kê Tài khoản vệ tinh du lịch của Liên Hợp quốc (United Nations, 2010). Báo cáo đưa ra 145 chỉ số thống kê du lịch, thuộc 6 nhóm, bao gồm:

(1) Du lịch quốc tế đến (Inbound tourism) gồm 44 chỉ số liên quan đến số lượng khách nghỉ đêm, trong ngày, phân theo khu vực, phương tiện vận chuyển, hình thức tổ chức chuyến đi, cơ sở lưu trú, chi tiêu, độ dài thời gian lưu trú, quy mô nhóm.

(2) Du lịch nội địa (Domestic tourism) gồm 28 chỉ số liên quan đến chuyến đi phân theo khách nghỉ đêm và khách trong ngày, mục đích chuyến đi, phương tiện vận chuyển, hình thức tổ chức chuyến đi, cơ sở lưu trú, quy mô nhóm, độ dài thời gian lưu trú, mức chi tiêu.

(3) Du lịch quốc tế đi (Outbound tourism) gồm 11 chỉ số liên quan đến số lượng khách phân theo khách nghỉ đêm và khách trong ngày, chi tiêu theo các mục đích, phương tiện vận tải, độ dài thời gian lưu trú và mức chi tiêu.

(4) Ngành du lịch (Tourism industries) gồm 30 chỉ số liên quan đến cơ sở lưu trú, dịch vụ ẩm thực, phương tiện vận chuyển khách, doanh nghiệp lữ hành và các cơ sở liên quan khác.

(5) Nhân lực (Employment) gồm 17 chỉ số liên quan đến số lượng lao động làm trong ngành du lịch gồm cơ sở lưu trú, dịch vụ ẩm thực, vận chuyển khách, doanh nghiệp lữ hành, dịch vụ đặt chỗ, các ngành liên quan khác và thống kê việc làm trong ngành du lịch.

(6) Các chỉ số bổ sung khác (Complementary indicators) gồm 15 chỉ số liên quan đến cầu du lịch và các chỉ số kinh tế vĩ mô gồm tỷ lệ khách du lịch và dân số, chi tiêu du lịch inbound so với GDP, chi tiêu du lịch outbound so với GDP, cán cân thanh toán du lịch, chi tiêu inbound so với xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ, chi tiêu outbound so với mức nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ và một số chỉ số liên quan khác. Nhóm chỉ số này do UNWTO tự tổng hợp.

(http://vietnamtourism.gov.vn/)

Video
.
.
.
.
Golf view
Mộc Lan Villa
Hits count: 33,871,779